Photo Gallery
Welcome
History
About CCSS
Profession of Vows
Memorial-Tuong Niem
Chia Se Thanh Kinh - Duc Cha Nguyen T. Hoan
Chia Se Thanh Kinh - Rev. Nguyen K. Hy, S.S.
Cam Nghiem Tu Doan - Yeu Thuong va Phuc Vu
Reflections CCSS Friends & Benefactors
Our Lady of Tapao
Poverty in Vietnam
Humanitarian Projects
--Clinics/Medical Facilities
--Planting & Processing Traditional Medicine
--Assistance to Lepers, Drug Addicts, the Disabled and Elderly
--Water Filtration Centers
--Pig Breeding Development Program
--Houses of Love
--Boarding Houses & Scholarships
--Milk for Malnourished Children
--Sewing Clothes for Poor Students
--Bicycles & Sandals Campaign
--Christmas Smiles Foods
Future Projects
News & Events
Mission Locations
Vocations & Contact
Donations & Contact
e-mail me


 

                                                       

                                                                                    

 

BƯỚC THEO CHÚA

(Lc 9, 57-62)

 

Ơn gọi của Tu Đoàn chúng ta càng ngày càng nhiều, nên dịp tĩnh tâm này chúng ta lấy lại đề tài “ơn gọi” để có sự thuần nhất trong lý tưởng, cũng như trong hành động, thuần nhất trong mục tiêu chúng ta nhắm tới, cũng như những biện pháp chúng ta dùng để đạt mục tiêu đó.

1. Ơn gọi duy nhất.

Một cộng đoàn thuần nhất trong tiếng gọi của Tin Mừng, bao giờ cũng được Chúa chúc phúc và sẽ đi tới thành công. Trước ngày ly biệt các tông đồ Chúa đã cầu nguyện: “Lạy Cha Chí Thánh, xin gìn giữ các môn đệ trong Danh Cha mà Cha đã ban cho Con, để họ trở nên một như chúng ta (Ga 17, 11).

Nếu chúng ta đến với nhau qua một chữ “Tu” thì không đủ, mà phải giữ cho được tiếng “thuần nhất” trong lý tưởng cùng nhau chia sẻ. Tin mừng là chuẩn mực cho mọi sinh hoạt cá nhân và cả tập thể cộng đoàn. Chia sẻ Phúc âm hằng tuần, chia sẻ là xem, xét, làm, là phương pháp cần thiết để ta điều chỉnh đời sống cá nhân để hành động đúng với mục tiêu. “Lý tưởng chúng ta là Tình yêu Chúa Kitô thì đó là các mục tiêu chi phối mọi hoạt động của chúng ta”. “Bác ái xã hội” là mọi hình thức hoạt động nhằm thể hiện tình yêu đó. Anh em lương dân và người nghèo là đối tượng để chúng ta phục vụ.

2. Chúa Kitô là tất cả.

Tuy là thù địch của Kitô giáo, nhưng một khi gặp gỡ Ngài, thánh Phaolô lập tức đã bỏ con đường hận thù để trở thành môn đệ Chúa. Lúc đó Phaolô sẵn sàng tuyên bỏ: “Đối với tôi sống là Đức Kitô”. Đó là lý tưởng, là lẽ sồng của vị đại tông đồ mệnh danh là tông đồ dân ngoại.

Tại sao chúng ta chọn lựa Đức Kitô?

Hãy so sánh việc chọn lựa này với những chọn lựa khác theo lề thói thế gian. Tiếng thế gian ở đây ta có ý hiểu một cuộc sống đã bị xa tan là vẫn đục nét tinh khôi của nó.

Ađam, Eva đã chọn hạnh phúc của mình nơi trái cây “biết lành dữ”. Nhưng một khi nuốt lọt trái cấm rồi Ađam, Eva bừng tỉnh, mở mắt thấy mình trần truồng, nghĩa là mất đi tất cả. Chọn sai mục tiêu cho cuộc đời nguy hiểm biết bao. Đức Kitô đến, chính Thiên Chúa đến và chỉ dẫn lại con đường chính trực cho con người. Chúa phán: “Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống”. Tin mừng của Ngài là Ánh Sáng, là Muối, là Men cho đời ta và cho toàn thể nhân loại.

Tuy Chúa đã đến trực tiếp hướng dẫn, nhưng còn biết bao người lầm lạc.

Các tông đồ cứ mãi miết với danh vọng Giuđa say mê tiền tài, người thanh niên đã chọn của cải …vv và Chúa đã phải điều chỉnh lại tất cả. Ba ơn gọi Thánh Luca để lại là một thí dụ. Phải biết chia sẻ cuộc sống gian lao của Ngài: Phải tin tưởng Ngài là sự sống bất tử. Phải ưu tiên cho lý tưởng đi theo Ngài.

Ngoài Chúa ra đâu là hạnh phúc cho đời ta?

Khi dựng nên con người với ý định rõ rệt từ lòng thương vô biên của Thiên Chúa, đó là ban cho con người hồng ân được chia sẻ hạnh phúc vô biên của Ngài. Hạnh phúc này biến thành niềm khát vọng mà không có một hạnh phúc nào trên đời này thỏa mãn được.

Đọc lại sách Sáng Thế về việc tạo dựng con người, ta thấy Thiên Chúa là Đấng tuyệt đối vô biên, đã sáng tạo mọi loài, nhưng riêng con người được tác tạo giống hình ảnh Ngài, điểm nhấn đặc biệt. Một trong những hình ảnh vô biên là con người có khả năng chia sẻ sự sống Hạnh Phúc của Thiên Chúa. Nếu con người chỉ biết tìm hạnh phúc mà chính mình tạo ra, tất cả chỉ là hữu hạn, hạnh phúc đến rồi đi (mau tan như khói, chóng tàn như mây). Khao khát vẫn còn đó. Bỏ Thiên Chúa để tìm về chính mình với mơ ước mình làm chủ, làm Chúa của mình đó là cách thả mồi bắt bóng. Ngoài Thiên Chúa, con người không tìm đâu được hạnh phúc thật. Chính vì thế, mà Thiên Chúa lại sai Con của Người đến trần gian để dạy bảo lại chúng ta tìm con đường về hạnh phúc thật, sự sống thật. Không có gì rõ rệt hơn là câu nói của Chúa với ông Tôma và các tông đồ: “Thầy là Đường là Sự Thật và là Sự Sống”(Ga 14, 6).

3. Thế nào là đi theo Chúa.

Từ kinh nghiệm nguyên thủy của những môn đệ đầu tiên là Anrê và Gioan đã được thánh Gioan Tẩy Giả giới thiệu cho họ: Chúa Giêsu chính là “Chiên Thiên Chúa”, một danh hiệu mà tiên tri Isaia đặt trước cho Đấng Thiên Chúa sai đến (Thiên sai). Rồi ông khuyên các môn đệ mình hãy đi theo Chúa. Lúc đã bắt kịp Ngài, Chúa ngoảnh mặt lại như một cử chỉ đón nhận, Chúa hỏi: “Các anh tìm gì thế”? Họ không trả lời trực tiếp, họ tìm gì như ta chờ đợi, mà họ hiểu ngầm rằng họ muốn “theo Chúa”, cho nên họ hỏi lại: “thưa Ngài, Ngài ở đâu” ? Chúa đáp lại: “đến mà xem”.

Trong câu trả lời trên đây có nhiều ý nghĩa, nhưng điều quan hệ nhất: là một cuộc sống chung, một mẫu đời chia sẻ trực tiếp với Chúa để biết Ngài là ai. Hôm nay chúng ta được Chúa mời gọi chia sẻ cuộc đời Ngài qua Bí Tích Thánh Thể. Đó là cuộc đời hy sinh và phục vụ cho đến chết vì Tình yêu. Cuộc đời trở nên Tấm Bánh bẻ ra cho muôn người. Cuộc đời chỉ biết nói tiếng có: “có Thầy đây” với những ai đang đầy đau khổ giữa cuộc đời. “Hỡi những ai gánh nặng đường đời hãy đến với Tôi, Tôi sẽ cho họ được bồi dưỡng.

Chúng ta cũng được chia sẻ cuộc đời Ngài với Tin mừng, những lời Người giảng dạy, những thái độ tâm tư và việc làm của Ngài. Đọc Tin mừng trong tinh thần của Đức tin, của lòng Mến, của sự trân trọng, chúng ta sẽ được Người dạy bảo qua sự soi sáng rất êm đềm và đột xuất của Thánh Linh.

Nhưng chiêm niệm mà thôi thì không đủ. Có quyết tâm thực hiện lời Ngài, chúng ta mới thực sự xây dựng cuộc đời ta trên đá tảng. Đá Tảng đó chính là Ngài. Hạnh phúc Nước Trời sẽ đến trong chúng ta khi đã dày công thực hành ý Chúa. Mỗi người tu sĩ phải tập để thực hiện một bức họa về dung mạo Chúa Kitô vào trong chính cuộc đời của mình.

4.Những trở ngại

Trở ngại đầu tiên là chính bản thân chúng ta. Cuộc sống chúng ta từ tấm hình lại được dệt trong dạ mẹ, đến tính tình, tiếng nói, phong tục tập quán lại được dệt từ môi trường gia đình và xã hội. Hầu hết con người chúng ta bị bao vây bởi cái vỏ cứng của môi trường. Đó là cái bình cũ Chúa đã nói đến trong Tin mừng: Bình cũ, rượu mới không thích hợp.

Rượu mới là Tin mừng, có bỏ cái bình cũ đi, ta mới đón nhận và sống lời Chúa cho hoàn hảo. Chúa vẫn luôn luôn đụng độ với thái độ thủ cựu của các tông đồ. Thói đời đang là chủ cõi lòng họ. Vì thế thói tham danh vọng của cải, quyền uy, tranh chấp địa vị cứ ám ảnh họ hằng ngày. Và họ ngại ngùng phải nghe Chúa nói. Ngài sẽ bị bắt, bị giết rồi sống lại. Cho nên có lúc Chúa đã nói thẳng với họ: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ chính mình, vác Thập giá mình mà theo Ta” (Mt 16, 24).

Với ba ơn gọi đáng chú ý trong Tin mừng ngày thứ sáu vừa qua. Theo Ngài không phải để sống một cuộc đời nhung lụa. Nhưng theo Ngài phải tin vào Sự Sống mới Ngài đem đến. Theo Ngài là gia nhập một gia đình mới vượt xa mọi thứ tình cảm trần ai.

Chúa nói với một thanh niên chân thành muốn đi tìm sự sống đời đời: “Anh chỉ còn thiếu một điều là về bán hết của cải, bố thí cho người nghèo rồi đến mà theo Ta”(Lc 18, 22).

Quả thực cuộc sống chúng ta có nhiều vương vấn chận bước ta đi theo Chúa. Nhưng với sức mạnh dìu dắt của Thánh Linh, không có gì là khó. Cho nên ta cần cầu xin với Chúa Thánh Linh hằng ngày, để chính Ngài là Đấng được sai đến thánh hóa, hoán cải cuộc đời cho chúng ta.

5. Sức mạnh của tập thể.

Ca dao Việt nam có câu:

              Một cây làm chẳng nên non

              Ba cây chụm lại thành hòn núi cao

Khi đem ơn Cứu độ đến cho nhân loại, Chúa cũng thiết lập Giáo hội để Cộng đoàn Giáo hội trở thành trung gian chuyển thông sự sống của Ngài cho nhân loại và đổng thời loan báo Tin mừng đi khắp địa cầu. Chúa Thánh Linh đã đến với tập thể các tông đồ, trong đó có Đức Mẹ chủ tọa buổi cầu nguyện. Chúa cũng dạy bảo các tông đồ: “Mỗi khi có hai ba người họp nhau vì Danh Ta, thì có Ta ở đó”. Khi sai các tông đồ đi loan báo Tin mừng Chúa cũng sai từng hai người thành một toán.

Hình ảnh vô cùng tuyệt vời của cộng đoàn là Thiên Chúa Ba Ngôi và danh nghĩa là Thiên Chúa Tình yêu. Tình yêu ở đây là cuộc sống, là hành động không ngừng của Ba Ngôi.

Tu đoàn cũng là một tập thể, một cộng đồng của Tình yêu. Vì thế chúng ta chọn lối sống có tính cách gia đình hơn là một cơ cấu chặt chẽ như các dòng tu khác. Chúng ta lại lấy Tình yêu Chúa Kitô như lý tưởng của cả cuộc đời dâng hiến. Yêu nhau để thăng tiến cho nhau, yêu nhau để phục vụ người nghèo và anh em lương dân, yêu nhau để cộng đoàn thành tổ ấm đùm bọc nhau, yêu nhau như Chúa yêu để cộng đoàn trở thành lời chứng cho Tin mừng Tình yêu. Và Tình yêu như vậy sẽ là nguồn Hạnh phúc cho cá nhân và sức mạnh cho mọi thành công của cộng đoàn.

Đâu có tình yêu ở đó có Đức Chúa Trời.

 

VỊ MỤC TỬ NHÂN LÀNH        

Tin Mừng Ga 10: 11-18

 

“Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì” (Tv 22). Đây là bài ca ngọt ngào và đầy tin tưởng nhất của người Dothái, và cũng là một kinh nghiệm thiêng liêng vô cùng quý giá của họ qua bốn mươi năm trong sa mạc và suốt chiều dài của một lịch sử đầy thăng trầm.

Từ kiếp nô lệ, họ ra khỏi Ai Cập như một kẻ chiến thắng dưới sự che chở an toàn và hùng mạnh của Thiên Chúa.

Nhưng một khi vào sa mạc, đời sống ở đây quả là một thử thách kinh khủng. Lương thực cạn dần, đàn vật thiếu cỏ, nước uống hiếm hoi, khí hậu sa mạc khe khắt. Những cơn bão cát bất ngờ có thể vùi dập hàng ngàn người trong giây lát. Vậy mà Chúa vẫn bảo toàn họ suốt bốn mươi năm trời cho đến khi nhìn thấy Đất Hứa.

Rồi đến đây họ lại gặp những bộ lạc hùng mạnh, thiện chiến, thành quách kiên cố, vũ khí hiện đại, vậy mà đó lại là mục tiêu phải chiếm cứ. Sau khi đoàn do thám trở về, đã có một cuộc khủng hoảng trầm trọng. Người tin tưởng vào sức mạnh của Thiên Chúa chủ trương tiến lên thì ít, hầu hết đều chủ trương rút lui và đòi trở về Ai Cập. Tuy vậy họ đã chiếm được Đất Hứa vẻ vang, dưới cánh tay hùng mạnh của Thiên Chúa. Từ đó họ không ngừng ca hát từ đời nọ qua đời kia: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi không còn thiếu thốn gì”. (Tv 22)

Tuy vậy từ ngày chiếm được Đất Hứa, trải qua hàng ngàn năm lịch sử, họ lại đi vào con đường đầy thăng trầm, do sự thiếu lòng tin của họ, khi thì mất nước, lúc thì mất đạo, vì Vua chúa của họ đã đem những thần lạ về nhà để cúng bái, cầu khẩn và bỏ mục tử của mình. Sự phản bội Chúa đã đem đến họa diệt vong. Nhưng những người trung thành với Giao Ước, vẫn ngày đêm hướng về Chúa, mặc dầu đây chỉ còn là nhóm nhỏ.

Cho đến lúc Chúa xuất hiện, đất nước Do Thái đang ở dưới ách nô lệ người Lamã. Bao cuộc nổi dậy đều thất bại và bị tàn sát cực kỳ dã man. Và khi thấy Chúa xuất hiện như vị tiên tri vô tiền khoảng hậu, bàn tay Ngài làm bao việc diệu kỳ, người Dothái ùn ùn đứng lên đòi bầu Ngài làm vua. Đây là những người vẫn mơ ước Thiên Chúa sẽ gửi đến một vị cứu tinh, một anh hùng dân tộc như Ngài đã hứa.

Chúa Giêsu không ngần ngại nhận lấy Danh xưng mục tử cho mình với một nghĩa tuyệt đối: chính Ngài là “Thiên Chúa Cứu Độ” Nhưng Ngài phải vất vả nhiều, vất vả đến đổ máu để cho người ta hiểu: Kế hoạch của “Thiên Chúa mục tử” vượt xa ngàn trùng với mơ ước chính trị của người Do Thái.

Vì vương quốc mà Ngài thiết lập là vương quốc có tầm cỡ vũ trụ, một vương quốc tập họp mọi dân nước không bằng vũ lực mà bằng tình yêu. Một vương quốc trường tồn vạn kỷ. Sự sống nơi đây không còn giới hạn mà là sự sống trường sinh bất tử. Hạnh phúc và vinh quang ở đây không người công dân nào mà không được hưởng trọn vẹn trong tình yêu Thiên Chúa.

Đó là dung mạo và hành động của vị mục tử nhân lành.

Những điều làm người ta phải ngạc nhiên là Ngài tuyên bố về chính mình là một vị “mục tử hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên”. Hiến mạng sống rồi, đàn chiên về tay kẻ chiến thắng.

Thực ra kế hoạch Cứu Độ của Ngài vẫn diễn tiến như Thiên Chúa Cha định liệu. Quả thực Ngài sẽ bị bắt và bị giết. Đó là hành động tột đỉnh của Tình Yêu. Yêu đến cả kẻ thù. Thà mình bị giết, không thà giết kẻ thù của mình. Cái chết nói lên Tình yêu Ngài mạnh hơn sự chết. Nhưng quyền năng Ngài không bị dừng lại đó. Thập giá là cánh cửa đưa Ngài vào đời sống mới: “Đời sống Phục Sinh” còn kỳ diệu gấp bội sự sống trên mặt đất này.

Từ cái chết đó kế hoạch mục tử của Ngài mới đem đến sự sống mới  cho đàn chiên, Ngài gọi là “Sự sống dồi dào viên mãn”. Lúc đó, Ngài và Thánh Linh có thể hiện diện bất cứ ở đâu và ở với bất cứ người tín hữu nào tin vào Tin Mừng của Ngài. Đời người tín hữu và Ngài trở nên một, và sự sống của Ngài hòa lẫn với sự sống người tín hữu. Một niềm hy vọng quá ư cao vời phát sinh nơi lòng người tín hữu. Cuộc sống của họ đang đi dần về “Trời mới Đất mới”. Và sự chết sẽ bị chiến thắng dứt khoát.

Dầu sao người tín hữu vẫn còn là con người của mặt đất. Bao lâu còn ở trên đời này là thời gian làm giàu cho sự sống tương lai. Họ có nhu cầu phát huy lòng Tin Cậy Mến. Hơn nữa hồng ân Cứu độ cần phải lan tỏa, phải được loan báo cho khắp nhân loại. Chúa cần thiết lập Giáo hội như cánh tay nối dài của Ngài để tiếp tục sự hiện diện hữu hình của Ngài cho đến tận thế, để ban phát các mầu nhiệm thánh, tức là thức ăn thiêng liêng cho đàn chiên tín hữu, để loan báo Tin mừng cho lương dân và làm việc bác ái, yêu thương phục vụ như Ngài đối với những người nghèo đói, bệnh tật, bị bỏ rơi.v.v.

Để hoàn thành sứ mệnh Chúa giao phó, Giáo hội cần đến những tín hữu dấn thân cách trưởng thành vì Đức tin. Nhất là những người tận hiến trót đời mình để lo việc Chúa.

Chúa Nhật IV mùa Phục Sinh dành để cầu nguyện ơn thiên triệu, đặc biệt ơn thiên triệu linh mục, là lớp người đặc trách phận vụ điều khiển, thánh hóa giáo đoàn, xây dựng và thực hiện tinh thần loan báo Tin mừng và hoạt động bác ái.

Ơn thiên triệu này càng ngày càng thiếu thốn nơi các xã hội tiên tiến. Do đức tin xuống cấp, tinh thần hưởng thụ lại tăng trước sự lôi cuốn của văn minh vật chất.

Giáo hội Việt Nam chưa chịu ảnh hưởng nhiều với nền văn minh này, nhưng phải chẩn bị cho một tình huống tương tự. Cần nuôi dưỡng các ơn gọi, đào tạo ơn gọi trở thành linh mục hoặc tu sĩ say sưa lý tưởng dấn thân. Gia đình và ân nhân các ơn gọi luôn luôn được Giáo hội trân trọng đặc biệt, và phần thưởng lớn lao ở nơi Thiên Chúa.

 

Năm Thánh Đức Mẹ Tàpao 2009

Ngày hành hương dành giới hiền mẫu

Đức cha Phaolô Nguyễn Thanh Hoan giảng lễ, ngài suy niệm Tin mừng Lc 11: 27-28.

Anh chị em thân mến,

Một người phụ nữ nghe Chúa giảng dạy, bà nghe say mê. Với tính nhạy cảm của một người nữ, bà cảm nghiệm niềm hạnh phúc của người mẹ có một người con tuyệt vời như Chúa Giêsu. Giữa đám đông, bà bày tỏ niềm thán phục Chúa, bà tán dương Mẹ Maria “người mẹ có phúc đã cưu mang Thầy và vú đã cho Thầy bú mớm”.

Đáp lại lời tán dương ấy, Chúa nói đến hạnh phúc cho ai nghe và giữ lời Thiên Chúa “Bà ơi, đúng hơn phải nói rằng: phúc thay kẻ biết lắng nghe và giữ lời Thiên Chúa”.

Tại sao Chúa nói như vậy? thưa là Chúa đang rao giảng những chân lý ngàn đời, những chân lý đem đến hạnh phúc. Hạnh phúc đích thực trong Nước Thiên Chúa. Thiên Chúa mời gọi con người chia sẽ hạnh phúc với Ngài. Đây là hạnh phúc tuyệt đối, chính Chúa Giêsu sẽ đổ máu ra để mở đường cho nhân loại bước vào. Người phụ nữ kia đã tán dương Đức Mẹ là có phúc vì Mẹ có các vinh dự làm Mẹ của một người con tài ba kỳ diệu là Chúa Giêsu. Đây mới chỉ là vinh dự trần gian. Người ta thường mong ước được phúc, lộc, thọ, khang, ninh. Nhưng Mẹ Maria còn có một hạnh phúc lớn lao vượt quá mọi mơ ước trên đời. Đó là Mẹ đã nghe và giữ lời Thiên Chúa. Vì khi người ta biết lắng nghe, đón nhận và giữ lời Thiên Chúa thì thiên đàng đã ở trong người ấy, vinh phúc đời đời ở trong người ấy, Thiên Chúa ở trong người ấy. Đó là vinh phúc của Mẹ Maria. Hạnh phúc đời đời không bao giờ mất trong hồng ân diệu vợi của Thiên Chúa.

Bởi đó, Chúa đã nói với người phụ nữ kia, không chỉ dừng lại nơi lời khen Mẹ Maria có phúc vì đã có vinh dự cứu mang, nuôi dưỡng một người con tuyệt vời, mà cần hướng đến ý nghĩa cao cả hơn. Phúc thay cho ai biết lắng nghe và giữ lời Thiên Chúa. Đó là hạnh cao quý nhất của Đức Mẹ. Đức Mẹ nghe và giữ lời Thiên Chúa như thế nào? Đây là bài học chúng ta cần học hỏi hôm nay.

Trước hết, vào ngày Thiên Thần Gabriel đến truyền tin, Đức Mẹ đã đứng trước một mầu nhiệm lạ lùng. Mẹ cưu mang con Thiên Chúa. Mẹ suy nghĩ và trao đổi. Mẹ biết đây là thánh ý của Thiên Chúa. Mẹ đáp trả lời “Xin Vâng”. Mẹ đã lắng nghe, Mẹ đã tin và chấp nhận dấn thân. Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể trong lòng Mẹ. Chính Ngài là Ngôi Lời Thiên Chúa đang đến với nhân loại và trở nên Emmanuel.

Lời đó hôm nay đang đến gõ cửa lòng ta hằng ngày. Chúa mong chúng ta cưu mang Ngài, sống với Ngài, thực hiện lời Ngài. Hôm nay Chúa phục sinh đang ở với chúng ta qua bí tích Thánh Thể, qua lời Ngài mà Giáo Hội đang rao giảng.

Ngày kia, Chúa đang rao giảng, có người tin cho Chúa biết: “có Mẹ và anh em Thầy đang chờ gặp Thầy”. Chúa nói ngay với họ: “ai là Mẹ tôi, ai là anh em tôi?  Ai nghe và giữ lời Thiên Chúa, người đó là anh chị em tôi, là mẹ tôi”.

Lại một lần nữa Chúa nói lời với hai ý nghĩa. Ý nghĩa thứ nhất là tán dương Mẹ Maria là người diễm phúc luôn lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa. Ý nghĩa thứ hai, Chúa mời gọi mọi người trở nên những người thân thuộc của gia đình mới, gia đình thiêng liêng của Ngài, bằng cách lắng nghe, tin yêu và tuân giữ lời Thiên Chúa.

Có lẽ, bạn đã nghe lời Chúa nhiều, ít là hằng tuần, nhưng đã thực hiện lời Chúa thế nào? Bạn có thói quen đọc lời Chúa trong gia đình không?

Thưa anh chị em, phải thú nhận rằng chúng ta chưa ý thức đề cao lời Chúa trong đời mình, chúng ta muốn dự lễ, xong lễ là chu toàn bổn phận giữ đạo. Nhưng đem Lời Chúa vào cuộc sống, nhiều khi chúng ta không coi là quan trọng. Mục tiêu hàng đầu của đời sống tín hữu là biết lắng nghe và giữ lời Thiên Chúa hay nói cách khác là đem lời Chúa ra thực hành hằng ngày. Đối với Đức Mẹ, điều mà thánh Luca ghi nhận là trước mọi biến cố xảy đến, Đức Mẹ đều coi là thánh ý Thiên Chúa nên mẹ ghi nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng. Suy đi nghĩ lại trong lòng để làm gì? Thưa là để xin vâng thánh ý Chúa.

Tại tiệc cưới Cana, Mẹ xin Chúa giúp đỡ gia đình tân hôn đang hết rượu. Với một lời đề nghị đầy tế nhị: “Con ơi, họ hết rượu rồi”. Chúa đáp lại như một lời từ chối: “Thưa bà, việc đó liên can chi đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến”. Câu nói thật cứng cỏi. Nhưng Mẹ hiểu tình thương Chúa rồi nên Mẹ không buồn, không tủi. Mẹ tin nơi tình thương của Chúa. Chúa sẽ làm những gì tốt nhất, đẹp nhất cho con người. Vì thế, Mẹ tế nhị dặn dò người giúp vịêc: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”.

Trong cuộc thương khó của Chúa, có người mẹ nào thấy người ta đem con mình đi xử án, đánh đập tơi bời rồi đem đi đóng đinh mà người mẹ đó không đau đớn xót xa? Máu chảy ruột mềm. Nhưng phần Mẹ, vẫn một bề vâng theo thánh ý Chúa. Dười chân thập giá, Mẹ hịêp thông trọn vẹn trong lễ tế hiến dâng với con. Mẹ can trường tuỵệt đối. Mẹ nghe và giữ lời Thiên Chúa thật tuyệt hảo.

Hỡi các bà mẹ, cuộc đời của người mẹ nào cũng đầy cam go, truân chuyên vất vả. Gian truân hơn bất cứ bà mẹ nào trong chúng ta đây. Nhưng Mẹ Maria đã vượt qua tất cả trong niềm tin yêu vào lời Chúa. Mẹ luôn tín thác vào tình thương của Ngài. Hãy vững tin vào Lời Chúa. Hãy để Lời Chúa hướng dẫn cuộc sống sẽ tốt đẹp mỗi ngày.

Thưa anh chị em,

Mỗi dịp tháng Năm về, mỗi lần thưởng thức hương hoa, ta hãy hướng theo nhân Đức Mẹ, xin Mẹ tỏa hương thiên đàng của người, ấp ủ ta biến thành những đóa hoa tươi thắm của Mẹ. Mỗi khi hái hoa dâng tiến Đức Mẹ, ta hãy mượn hương sắc và lời huyền diệu của hoa để ca tụng hoặc cầu xin Người. Dâng Hoa Hồng, xin Mẹ cho ta được yêu mến Mẹ nhiều hơn. Dâng Hoa Huệ, ta ca ngợi đức khiết trinh của Mẹ. Xin Mẹ lấy hương huệ trinh nguyên của hồn Mẹ ướp hồn ta nên trong trắng.

Những ngày tháng năm này, nếu thiếu những bông hoa hữu hình, ta hãy hái hoa hồng thiêng là kinh Mân Côi để dâng lên Mẹ. Nhưng thế nào đi nữa, nguyện ước trái tim chúng ta hãy biến thành một dàn hoa kết đủ những hương hoa thơm ngát nhân đức dâng kính Mẹ.

Trong cuộc hành hương nội tâm hay lữ hành nơi dương thế, chúng ta tin có Mẹ Maria luôn cầu bầu che chở, yêu thương nâng đỡ. Chúng ta nhìn lên Mẹ như mẫu gương của bậc thầy lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa. Hãy luôn vững lòng cậy trông với niềm tin yêu. Đức Mẹ TàPao hằng yêu thương phù trợ mỗi người chúng ta.

Xin dâng lên Mẹ những sắc hoa của cuộc đời chúng con. Ước gì cuộc đời chúng con luôn là những bông hoa tươi thắm dâng tặng cho đời xuân sắc, lan toả hương thơm bác ái trong môi trường sống của chúng con. Amen.